- BÁO GIÁ ÉP CỌC BÊ TÔNG
- ÉP CỌC NEO HẺM NHỎ
- ÉP CỌC BÊ TÔNG GIÁ RẺ, UY TÍN, CHẤT LƯỢNG
- Ép cọc Bê Tông TP HCM
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 1
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 2
- Ép cọc bê tông quận 3
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 4
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 5
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 6
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 7
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 8
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 9
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 10
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 11
- ÉP CỌC BÊ TÔNG QUẬN 12
- Ép cọc bê tông quận thủ đức
- ÉP CỌC BÊ TÔNG BÌNH CHÁNH
- ÉP CỌC BÊ TÔNG HÓC MÔN
- Ép cọc bê tông quận Bình Tân
- Ép cọc bê tông quận Tân Bình
- ÉP CỌC BÊ TÔNG GÒ VẤP
- Ép cọc bê tông quận Tân Phú
- Ép cọc bê tông huyện củ chi
- Ép cọc bê tông quận Bình Thạnh
- Ép cọc bê tông Quận Phú Nhuận
- EP COC BE TONG BINH DUONG
6.12 Nếu trong thiết kế móng cọc ống có quy định tìm biên độ giao động khi sắp dừng rung cọc thì biên độ dao động các cọc-ống đường kính ngoài đến 2 m, với tốc độ hạ cọc từ 2 cm đến 20 cm trong 1 min được tính theo công thức:

trong đó:
A là biên độ lấy bằng 1/2 độ lắc toàn phần của giao động ở những phút cuối trước lúc dừng rung, tính bằng xentimét (cm);
Nn là công suất hữu hiệu toàn phần ở giai đoạn cuối, tính bằng kilôoát (kW);
Nx là công suất vận hành không tải, đối với búa rung tần số thấp, lấy bằng 25 % công suất thiết kế của động cơ điện, tính bằng kilôoát (kW);
nv là tốc độ quay của bộ lệch trong búa rung, tính bằng vòng trên phút (r/min);
P là khả năng chịu tải của cọc-ống, tính bằng tấn (T);
l là hệ số phụ thuộc vào tỷ số giữa sức kháng động và sức kháng tĩnh của đất, cho trong Bảng 8 và Bảng 9;
Qv là trọng lượng của hệ thống rung, bằng tổng trọng lượng của búa rung và chụp đầu cọc, tính bằng tấn (T).
Bảng 8- Hệ số l cho cát
|
Tên cát |
Hệ số l |
||
|
Thô |
Vừa |
Nhỏ |
|
|
Cát no nước |
4,5 |
5,0 |
6,0 |
|
Cát ẩm |
3,5 |
4,0 |
5,0 |
Bảng 9- Hệ số l cho sét
|
Tên cát |
Hệ số l khi độ sệt |
||
|
IL >0,75 |
0,5 < IL ≤ 0,75 |
0,25< IL ≤ 0,5 |
|
|
Á sét, á cát |
4,0 |
3,0 |
2,5 |
|
Sét |
3,0 |
2,2 |
2,0 |
Khi có nhiều lớp đất thì l xác định theo công thức:

trong đó:
li là hệ số của lớp thứ i;
hi là chiều dày của lớp thứ i, tính bằng mét (m).
6.13 Khi rung hạ cọc tròn và cọc- ống, không tựa vào đá và nửa đá, để đảm bảo khả năng mang tải của cọc, P, cần rung hạ đoạn cuối sao cho biên độ dao động thực tế A, không vượt quá biên độ tính toán, Att, theo vế phải của công thức (5). Nếu A > Att chứng tỏ sức kháng của đất chưa đạt yêu cầu, cần phải tiếp tục rung hạ cho tới khi thoả mãn công thức nêu trên thì mới đảm bảo khả năng mang tải của cọc. Giá trị của nv nếu không có thiết bị đo thì lấy theo thông số trong lý lịch búa rung. Có thể dùng các loại máy trắc đạc để đo biên độ dao động, hoặc dùng các thiết bị tự ghi. Trong trường hợp không có thiết bị đo thì có thể dùng cách vẽ đường ngang thật nhanh lên giấy kẻ ô đã dán sẵn vào thân cọc, sẽ thu được đường cong dao động. Nối các đỉnh trên và đỉnh dưới thành đường gấp khúc, đo chiều cao lớn nhất với độ chính xác tới 0,1 cm ta thu được độ lắc của dao động chính bằng 2 lần biên độ dao động cần tìm.
6.14 Trị số của các hệ số l trong Bảng 8 và Bảng 9 nên chuẩn xác lại theo kết quả nén tĩnh cọc thử. Sau khi rung hạ cọc và nén tĩnh cho ta khả năng chịu tải của cọc P thì hệ số l cho điều kiện đất nền thực tế được tính theo công thức:

Các thông số của quá trình rung lấy như phần trên.
6.15 Chỉ cho phép dùng xói nước để hạ cọc ở những nơi cách xa nhà và công trình hiện có trên 20 m. Để giảm áp suất, lưu lượng nước và công suất máy bơm, cần phải kết hợp xói nước với đóng hoặc ép cọc bằng đầu búa. Khi cần xói nước trong cát và á cát ở độ sâu hơn 20 m phải kèm theo bơm khí nén khoảng từ 2 m³/min đến 3 m³/min vào vùng xói nước.
Đối với cọc và cọc ống có đường kính nhỏ hơn 1 m thì cho phép dùng một ống xói đặt giữa tiết diện. Đối với các cọc ống đường kính lớn hơn 1 m thì nên đặt các ống xói theo chu vi cọc ống cách nhau từ 1,0m đến 1,5 m. Khi hạ cọc đến mét cuối cùng thì ngưng việc xói nước, tiếp tục đóng hoặc rung hạ cọc cho đến khi đạt độ chối thiết kế để đảm bảo khả năng chịu tải của cọc. Nên áp dụng biện pháp xói nước khi hạ cọc trong đất cát.
6.16 Các ống xói nước phải có đầu phun hình nón. Để đạt được hiệu quả xói lớn nhất thì đường kính đầu phun nên chiếm khoảng 0,4 đến 0,45 lần đường kính trong của ống xói. Khi cần tăng tốc độ hạ cọc thì ngoài đầu phun chính tâm còn làm thêm các lỗ phun nghiêng 30° đến 40° so với phương đứng ở xung quanh ống xói. Đường kính các lỗ này từ 6 mm đến 10 mm. Áp lực nước cần thiết, lưu lượng nước tùy theo đường kính, chiều sâu cọc và loại đất có thể tham khảo trong Bảng 10.
Bảng 10- Áp lực nước để xói
|
Tên cát |
Chiều sâu (m) |
Cột áp tại vòi phun (T/m²) |
Đường kính trong (mm)/lưu lượng (L/min) cho cọc có đường kính (cm) |
|
|
30 đến 50 |
50 đến 70 |
|||
|
Bùn, á cát chảy |
Từ 5 đến 15 |
Từ 4 đến 8 |
|
|
|
Cát mịn, bụi, chảy, bùn dẻo chảy, dẻo mềm |
Từ 15 đến 25 |
Từ 8 đến 10 |
|
|
|
Sét và á sét |
Từ 25 đến 35 |
Từ 10 đến 15 |
|
|
|
Cát hạt trung, thô và lẫn sỏi |
Từ 5 đến 15 |
Từ 6 đến 10 |
|
|
|
Á cát dẻo |
Từ 15 đến 25 |
Từ 10 đến 15 |
|
|
|
Á sét và sét dẻo cứng |
Từ 25 đến 35 |
Từ 8 đến 20 |
|
|
|
CHÚ THÍCH: Khi đóng bù các cọc dài, để tận dụng công suất búa thì sau khi ngưng xói nước chính tâm, nên xói tiếp thêm phía ngoài phần trên của cọc. Có thể dùng hai ống xói đường kính trong từ 50 mm đến 68 mm. |
||||